Viêm xoang ám chỉ viêm ở xoang cạnh mũi (paranasal sinuses) là một bệnh khá phổ biến, không giới hạn tuổi tác, giới hạn tuổi tác, giới tính hay chủng tổng. Trên lâm sàng, viêm xoang được phân làm hai dạng: Cấp tính và mãn tính căn cứ vào yếu tố biến đổi không phục hồi của niêm mạc xoang. Thực tế, viêm xoang có các thể: Cấp tính, bán cấp (subacute), mãn tính, dị ứng hay tăng sản (huperplastic).
Viêm xoang cấp tính thường do hệ quả từ chứng cảm lạnh lâu ngày không khỏi và từ từ chuyển qua thể bán cấp. Theo thống kê của Hoa Kỳ, có người vị viêm xoang bán cấp do cảm lạnh biến thể chiếm khoảng 10%. Còn xoang mãn tính thì nặng hơn, phần đông lâm vào tình trạng nhiễm khuẩn dai dẳng: thường thấy viêm xoang dị ứng đi kèm với viêm mũi dị ứng, viêm xoang sàn là sự kết hợp giữa viêm xoang cấp tính có mù và viêm xoang dị ứng hay viêm mũi (rhinitis).
- Nguyên nhân
– Viêm xoang thường do hậu quả bởi nhiễm siêu vi trùng hoặc vi khuẩn.
– Viêm xoang cấp tính thường do vi khuẩn Pneumococci, Streptococci.
– Viêm xoang mãn tính thường do vi khuẩn Straphylocoddi và vi khuẩn nhiễm
– Tuy hiếm nhưng nấm (fungi) cũng là một nhân tố về bệnh học.
Nói chung, bất kỳ nhân tố nào dẫn tới bệnh viêm xoang cũng đều gây ra những hiệu ứng xấu như: Phù mũi kinh niên, làm lệch vách ngăn, dịch nhày đặc quánh, poly mũi, viêm mũi dị ứng, khó thở, đau đầu.
- Dấu hiệu và triệu chứng:
Điểm đặc trưng của mỗi loại viêm xoang đều khác nhau
- Viêm xoang cấp tính:
Viêm xoang cấp tính thường gặp là viêm xoang hàm, xoang sàng, xoang trán. Xoang bướm, đôi khi viêm nhiều xoang cùng một lúc. Như đã nói phần trên, nguyên phân phổ biến nhất là do viêm mũi dị ứng, cảm cúm, viêm họng, áp xe quanh chân răng, bị chân thương hay tắm nước bị ô nhiễm lâu ngày mà thành. Các thể viêm xoang cấp tính gồm có:
- Viêm xoang trán cấp tính:
Thể này thường liên kết với viêm xoang sàng trước. Nếu phối hợp với viêm xoang hàm thì gọi là viêm liên xoang trước.
Khởi đầu như thể sổ mũi thông thường, kéo dài khoảng 5 – 6 ngày rồi xuất hiện những cơn đau ở xoang trán, phía trên ổ mắt, đau một bên, mỗi ngày cơn đau chia làm 2 chu kỳ rất đặc biệt: Cơn đau bắt đầu từ sáng sớm, tăng dần đến xế trưa thì ngưỡng đau đạt mức tối đa. Lúc này, mũi tiết ra nhiều mủ, cơn đau dịu xuống vì xoang vơi bớt chất mủ. Đến chiều, cơn đau lập lại giống như buổi sáng.
Điểm dễ nhận là nước mũi ít tiết xuất giữa hai đợt dẫn mủ nhưng đôi khi kèm theo chứng chảy nước mắt, đau mắt khi chuyển động nhanh hoặc sờ vào vùng xoang trán rất đau do tăng cảm giác.
Soi mũi trước thấy niêm mạc mũi bị sưng huyết, sau khi đặt thuốc cho co niêm mạc thì thấy mủ chảy ra từ khe giữa mũi. Có những thể bệnh viêm xoang ứ họng, mủ không chảy ra đau đớn kịch liệt. Nếu chụp X – rays, cho thấy xoang chiếm toàn bộ vùng trán hoặc có chứa nước. Nếu diễn biến thuận lợi, bệnh có thể lành trong khoảng 10 ngày.
- Viêm xoang hàm cấp tính:
Cũng bắt đầu như cơn sổ mũi thông thường nhưng kéo dài không khỏi, rất xuất hiện cơn đau ở khu vực phía dưới ổ mắt, đau một bên, đau xuyên thấu về hướng răng hàm, cơn đau tăng khi gắng sức nhai hay lúc nằm.
Tương tự như đau xoang trán cấp tính, Cơn đau viêm xoang hàm cấp tính cũng có 2 chu kỳ nhưng không rõ rệt. Có điểm đau rõ phía dưới cổ mắt.
Hốc mũi bị sung huyết, sau khi làm co niêm mạc, thấy mũi chảy mủ nhưng không có mùi thối, đôi khi có lẫn máu. Nếu diễn biến tốt, bệnh có thể khỏi trong vòng 10 ngày.
Nếu viêm xoang do áp xe quanh chân răng thì gây sâu răng, sưng lợi, đau dữ dội. Vài hôm sau mủ thối và vỡ ra và chảy ồ ạt vào trong xoang. Nhổ bỏ răng sâu thì có thể khỏi bệnh
- Viêm xoang sàng cấp tính ở trẻ em:
Đây là thẻ bệnh xuất hiện ngay từ lúc trẻ em mới sinh ra, phát triển nhanh, từ 2 – 4 tuổi có thể đã bị viêm.
Do vị trí nằm sát ổ mắt nên triệu chứng thường tập trung ở mắt.
Khi bị sổ mũi, hai mí mắt thường sưng húp, đỏ, nhưng nhãn cầu không bị tổn thương.
Hốc mũi sung huyết, có ít mủ nhầy đọng trên các vòm cuống.
- Viêm xoang mãn tính
Khi niêm mạc ổ viêm xoang ở thành xoang không hồi phục, lâu ngày sẽ trở thành mãn tính. Sự biến đổi niêm mạc là bệnh lý quan trọng vì có thể dày lên. Biến thành polip, di sản hoặc xơ hóa teo. Dịch tiết ra trong xoang thay đổi, đặc quánh lại. Tế bào lông nhiều nơi bị hư hỏng khiến sự chuyển động chậm hoặc đình truệ, do đó không phải được vi khuẩn, virus hay mủ ra ngoài theo lỗ thông xoang khiến tạo thêm tình trạng bội nhiễm.
Sau đây là một số viêm xoang mãn tính điển hình
- Viêm xoang hàm mãn tính
Có thể phát tác đơn độc hoặc kèm theo viêm xoang sàng và cả xoang trán tạo thành kiểu viêm đa xoang. Nhiều người không cảm thấy đau xoang mà chỉ thấy nhức đầu hay nhức vùng má.
Trường hợp viêm xoang do răng có bệnh thì chỉ viêm một chổ nào đó tại khu vực xương hàm, thường thấy mũi chảy mủ và mùi rất thối.
Viêm xoang hàm mãn tính thường kèm theo viêm xoang sàng trước, mủ tiết ra chảy xuống một bên mũi hoặc chảy xuống họng.
- Viêm xoang sàng mãn tính
Thường liên kết với một vài loại viêm xoang khác nên rất khó chuẩn đoán riêng lẻ khi xảy ra cơn đau.
Có thể bệnh viêm xoang chủ gây phù nề, không tạo mủ, nhưng vẫn gây nhức đầu, đau nặng vùng trán sau ổ mắt hoặc trên ổ mắt.
- Viêm xoang trán mãn tính:
Không nhiều, nhưng nếu có thì rất nặng, có thể gây biến chứng sọ não. Gây chảy mủ một bên mũi và đau đầu, nặng đầu với nhiều mức độ khác nhau.
Chụp X – Rays cho thấy các xoang trán mũi, mũi – cằm phát triển, bị viêm, niêm mạc dày.
- Viêm xoang sàng sau mãn tính:
Gồm viêm xoang bướm và viêm xoang sàng sau.
Biến chuyển âm ỉ với hiện tượng chảy mù phía sau họng.
Nghẹt mũi với nhiều mức độ khác nhau.
Nếu xoang đọng mủ thì đau đầu dữ dội từ đỉnh đầu xuyên xuống tới gáy.
Một số trường hợp viêm xoang chỉ đau nhẹ dễ bỏ qua, khi chụp X-rays mới thấy viêm.
- Viêm xoang mãn tính ở trẻ em:
Thường là viêm xoang hàm, viêm xoang hàm sàng do xoang phát triển chậm.
Thường xảy ra với trẻ em trên 5 tuổi, viêm cả 2 bên xoang, khí trị vì không chịu tác dụng của thuốc.
Triệu chứng rất đa dạng: Nghẹt mũi, mũi chảy mủ đặc hoặc chảy xuống họng.
Dịch mủ chảy vào họng, nuốt đi hay hít vào gây viêm phế quản, viêm dạ dày ruột non, ho từng cơn, khó thở như suyễn. Các triệu chứng này nhẹ vào mùa hè hưng tái phát nặng vào mùa thu, đông.

- HỌC THUYẾT ĐÔNG Y
Đông y học xếp viêm xoang vào chứng “Tỵ uyên”. Nguyên nhân gây bệnh thường do hai yếu tố chính: Phong hàn kết hợp với phế khí hư và vệ khí hư hoặc do phong nhiệt hay nhiệt độc gây ra. Tương tự như Tây y, chứng tỵ uyên được Đông y chia làm 2 thể: Cấp tính và mãn tính.
Cấp tính
Là gia đoạn mới nhuốm bệnh với các triệu chứng: Ngạt mũi, chảy nước mũi màu vàng, có mủ, đau vùng xoang hàm trán, viêm hố mũi. Bệnh nhân sợ lạnh, sốt, nhức đầu. Sau đây là một số nguyên nhân gây bệnh điển hình và phương pháp điều trị:
- Do phong nhiệt thương phế:
Thời gian mắc bệnh tương đối ngắn, triệu chứng ngạt mũi, chảy nước mũi đặc, sợ lạnh, đau đầu và cảm thấy nhức phía trước trán nhiều hơn, ho ra đàm đặc, rêu lưỡi màu trắng, đầu lưỡi đỏ, mạch đi phù sác.
Pháp trị: khử phong nhiệt, tuyên phế, thông khiếu. Cơ thể dùng các phương thang dưới đây
- Bài 1:
Kim ngân hoa 16g; Thương nhĩ tử 16g; Ngư tinh thảo 16g; Hy thiêm thảo 16g; Mạch môn 12g; Chi tử 06g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 2:
Tân di hoa 10g; Thương nhĩ tử 10g; Dã cúc hoa 10g; Ngưu bàng tử 10g; Hạnh nhân 10g; Bạch chỉ 10g; Bạc hà diệp 10g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 3:
Tân di hoa 10g; Thương nhĩ tử 10g; Kim ngân hoa 15g; Dã cúc hoa 10g; Ngưu bàng tử 12g; Ngưu tinh thảo 15g; Bạch chỉ 10g
- Bài số 4:
Thạch cao 40g; Ngưu tinh thảo 20g; Kim ngân hoa 16g; Mạch môn 12g; Tri mẫu 12g; Tân di hoa 12g; Hoàng cầm 12g; Chi tử 12g.
Sắc uống ngày 1 thang
Nếu bệnh nhân sợ lạnh, nhức đầu thì bỏ vị Hoàng Cầm, Mạch môn, gia thêm vị Ngưu bàng tử 12g, Bạc hà diệp 12g.
- Bài số 5:
Tang diệp 10g; Cúc hoa 10g; Hoàng cầm 10g; Sinh chi tử (giã dập) 10g; Thương nhĩ tử 10g; Bạch chỉ 10g; Kim ngân hoa 10g; Man kinh tử 10g; Lô căn 12g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Do đởm nhiệt
Triệu chứng thường thấy gồm ngạt mũi, chảy nước, mũi vàng đặc, có mùi hôi, miệng đắng, họng khô, nước tiểu vàng, nhức đầu, tính tình dễ cáu gắt, rêu lưỡi vàng, sắc lưỡi đòm mạch đi huyền sác.
Pháp trị: Thanh đờm nhiệt, thông khiếu bài nùng (tiêu mủ) có thể chọn các bài
- Bài số 1:
Dây dưa hấu 1000g.
Cách làm: Cắt ngắn, sấy thật khô, tán bột mịn cất vào lọ dùng dẫn, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g với nước chín. Bài này dùng cho người bị viêm mũi do phong nhiệt thương phế và do đởm nhiệt.
- Bài số 2:
Dây mướp khía 300g; Bạch chỉ 30g.
Cách làm: Dây mướp chọn phần dây to, cắt sát gốc một đoạn dài khoảng 1 mét (tương đương 300g), băm nhỏ, đem sao hay sấy thật khô, kết hợp với Bạch chỉ tán bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g với nước chín.
- Bài số 3:
Bồ công anh 16g; Qua lâu nhân 16g; Tử đan sâm 16g; Kim ngân hoa 12g; Long đởm thảo 12g; Tân di hoa 10g; Thương nhĩ tử 10g; Sài hồ 06g; Cam thảo 03g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 4:
Long đờm thảo 12g; Sơn chỉ tử (giã dập) 12g; Thương nhĩ tử 12g; Ngư tinh thảo 12g; Hạ khô thảo 15g; Hoàng cầm 12g; Bạch chỉ 12g; Lô căn 15g.
Sắc uống ngày 1 thang
– Nếu tắc mũi chảy nước vàng mà bên trong mũi có mủ đục thì uống thang thuốc dưới đây để giải nhiệt độc, tiêu mủ, giảm phù, lợi khiếu:
- Bài số 5:
Thăng ma 06g; Xích thược 12g; Ngự tinh thảo 12g; Kiết cánh 10g; Thương nhĩ tử 12g; Cát căn 15g; Hoàng cầm 12g; Bồ công anh 20g; Bạch chỉ 10g; Cam thảo 06g.
Sắc uống ngày 1 thang
Gia giảm: Nếu người nóng, lưỡi đỏ, gia sinh Thanh cao 20g; miệng đắng, họng khô, tai ù tai điếc gia Hoắc hương 10g, Long đởm thảo 10g; vách mũi phù nề nặng gia Mộc thông 12g, Xa tiền tử 10g, Ý dĩ nhân 20g; tắc mũi khó thở gia Tân di hoa 12g, Đương qui vĩ 12g, Hạnh nhân 10g; trong nước mũi có lẫn máu gia Tây thảo căn 10g, Mẫu đơn bì 12g, Bạch mao căn 20g, Tiểu kế 15g; nước mũi vàng và nhiều gia Kim ngân hoa 15g, Hồ trượng 15g; đau đầu nặng gia Bạch tật lê 12g, bạch thược 12g, chế Thảo ô 10g; cơ thể suy nhược gia Hoàng kỳ 15g, đương qui 12g; táo bón gia Đại hoàng (sao rượu) 10g, Hỏa ma nhân 5g.
- Do tỳ thấp nhiệt:
Triệu chứng thường thấy: Ngạt mũi, nước mũi nhão màu vàng, hôi, bụng đầy, ăn uống giảm, mệt mỏi, rêu lưỡi vàng trơn, mạch đi sác.
Pháp trị: Dùng thuốc thanh nhiệt khứ thấp.
Nếu nhẹ thì dùng bài số 1 – 2 hoặc số 3, nặng thì dùng bài số 4 và 5 dưới đây:
- Bài số 1:
Hoàng cầm 10g; Nhân trần 15g; Ý dĩ nhân 15g; Hoắc hương 10g; Thạch xương bồ 10g; Xích thược 10g; Tân di hoa 10g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 2:
Bồ công anh 15g; Thất diệp nhất chi hoa 15g; Trư linh 10g; Hoạt thạch 15g; Nhân trần 15g; Hoắc hương 10g; Cửu tiết xương bồ 10g; Tan đan sâm 15g; Bạch đậu khấu 03g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 3:
Hoắc hương 100g; Thương nhĩ tử 10g.
Cách làm và dùng: Hoắc hương tán bột mịn, trộn với nước mật lợn cho dẻo, làm hoàn bằng hạt ngô, đem phơi hay sấy khô dùng dần. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 15g sau bữa ăn. Dùng 10g. Thương nhĩ tử nấu lấy nước để uống với thuốc hoàn.
- Bài số 4:
Kim ngân hoa 12g; Hạ khô thảo 20g; Cúc hoa 15g; Tân di hoa 12g; Ngọc tán hoa 06g; Hoàng cầm 12g; Khổ sâm 15g; Thương nhĩ tử 12g; Bạch tật lê 12g.
Sắc uống ngày 1 thang
Bài thuốc này có tên là “Quần phương tiễn” của Y sư Vương Kiến Phù, Giám đốc Y viện số III thành phố Trùng Khánh Trung Quốc sáng chế, có đề xuất gia thêm một loại hoa phụ dẫn tùy theo tháng (âm lịch) điều trị: Tháng giêng giá thêm Nghinh xuân hoa 10g, Tháng hai gia Bạch ngọc lan hoa 10g, Tháng ba gia Bạch đào hoa 10g, Tháng tư gia Bạch thược dược hoa 10g, Tháng năm gia Thạch lưu hoa 10g, Tháng sáu gia Bạch phượng tiên hoa 10g, Tháng bảy gia Bạch hà hoa 10g, Tháng tám gia Ngân quế hoa 10g, Tháng chín gia Bạch phù dung hoa 10g, Tháng 10 gia Kê quan hoa 10g, Tháng mười một gia Bạch phù dung hoa 10g, Tháng mười hai gia tổ tân lạp mai hoa hoặc Lục ngạc mai hoa 10g.
- Bài số 5:
Thương nhĩ tử 12g; Xích phục linh 12g; Bạch chỉ 10g; Tân di hoa 12g; Thạch xương bồ 10g; Cam thảo 06g; Hoàng cầm 10g; Kim ngân hoa 16g; Sinh địa 16g; Thương nhĩ tử 16g; Huyền sâm 12g; Ý dĩ nhân 20g; Hoắc hương 10g; Hoàng liên 06g; Thông thảo 10g; Ty qua đằng 12g;
Sắc uống ngày 1 thang
Mãn tính
Là giai đoạn bệnh lý kéo dài không khỏi, gây biến chứng. Ấn đau vùng xoang hàm và trán, nước mũi có mũ đặc hoặc lỏng, mùi hôi, nhức đầu thường xuyên, vách mũi phù nề, khứu giác giảm, không ngửi được mùi. Nguyên nhân thường do ứ huyết, khí hư. Pháp trị là ích khí, dưỡng âm, thanh nhiệt, hóa thấp trọc.
- Bài số 1:
Mẫu đơn bì 12g; Mạch môn 12g; Hoàng cầm 12g; Tân di hoa 08g.
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 2:
Ý dĩ nhân 16g; Nhân trần 16g; Hoàng cầm 12g; Xích thược 12g; Tân di hoa 10g; Hoắc hương 10g; Thạch xương bồ 10g;
Sắc uống mỗi ngày 1 thang
- Bài số 3:
Bồ công anh 16g; Thất diệp nhất chi hoa 16g; Hoạt thạch 16g; Nhân trần 16g; Tử đan sâm 16g; Trư linh 12g; Hoắc hương 10g; Thạch xương bồ 10g; Bạch đậu khấu 04g (cho vào sau).
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 4:
Đảng sâm 16g; Ý dĩ nhân 16g; Phục linh 12g; Thương nhĩ tử 10g; Tân di hoa 10g; Xuyên khung 10g; Bạch đậu khấu 04g (cho vào sau).
Sắc uống ngày 1 thang
- Bài số 5:
Hoàng kỳ 20g; Bản lam căn 16g; Khổ sâm 12g; Bạch truật 12g; Phòng phong 10g; Bạch chỉ 10g; Thạch xương bồ 10g; Thương nhĩ tử 10g; Cam thảo 04g.
Sắc uống ngày 1 thang
– Nếu nặng thì dùng 2 bài thuốc số 6 – 7 dưới đây:
- Bài số 6:
Đảng sâm 15g; Bạch truật 12g; Phục linh 12g; Ý dĩ nhân 20g; Thương nhĩ tử 12g; Tân di hoa 10g; Xuyên khung 10g; Bạch đậu khấu 04g; Xích thược 12g; Đào nhân 10g; Hồng hoa 10g; Thiên trúc hoàng 10g; Sơn từ cô 12g; Sung úy tử 10g; Hồng táo 10 quả; Lão thông (hành già) 04 cây; Sinh khương 03 lát.
Sắc uống ngày 1 thang. Có thể phối hợp thủy châm vào cạnh mũi mỗi tuần 1 lần, 3 lần là một đợt điều trị. Hai ba đợt là hiệu quả.
- Bài số 7:
Sinh hoàng kỳ 30g; Bạch truật 12g; Phòng phong 10g; Bạch chỉ 10g;Cửu tiết xương bồ 10g; Thương nhĩ tử 12g; Khổ sâm 12g; Bản lam căn 30g; Cam thảo 10g; Hạ khô thảo 40g; Bạch hoa xà thiệt thảo 50g; Cúc hoa 30g; Sinh mẫu lệ 30g; Bồ công anh 30g; Tử đan sâm 20g; Hải tảo 30g; Kê nội kim 15g; Uất kim 10g; Sơn đậu căn 10g; Triết bối mẫu 10g.
Sắc uống ngày 1 thang. Vì lượng thuốc nhiều, đổ nước, ngập mặt thuốc nấu đặc, chia uống nhiều lần tùy ý. Mỗi thang có thể nấu 2 – 3 lần.
Bài thuốc Đông y trị viêm xoang mang tính chất tham khảo độc giả không nên tự ý bốc thuốc uống khi cần phải gặp bác sĩ đông y để được thăm khám và kê toa. Quý khách có nhu cầu thăm khám và tư vấn miễn phí vui lòng liên hệ:
Thiện Minh Y Quán
ĐC: B14/12/9, Cây Cám, Tân Vĩnh Lộc, TPHCM
ĐT & Zalo: 0904 890 895 – Website: www.thienminhyquan.com
